Content text Nhận thức CNTT và CĐS (965.UBND-KGVX).pdf
ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc Số: /UBND-KGVX V/v thống nhất nhận thức chung về sự khác nhau giữa công nghệ thông tin và chuyển đổi số Bắc Giang, ngày tháng 3 năm 2023 Kính gửi: - Các sở, cơ quan, đơn vị thuộc UBND tỉnh; - UBND huyện, thành phố. Triển khai thực hiện Chương trình chuyển đổi số quốc gia, trong thời gian qua các sở, ngành, địa phương đã đẩy mạnh hoạt động đào tạo, bồi dưỡng và truyền thông trên các phương tiện thông tin đại chúng nhằm nâng cao nhận thức, đẩy mạnh công cuộc chuyển đổi số trên địa bàn tỉnh. Tuy nhiên, trong quá trình triển khai tại một số cơ quan, đơn vị chưa có sự thống nhất nhận thức chung về chuyển đổi số, chưa phân biệt rõ giữa ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số; ảnh hưởng tới tiến trình chuyển đổi số tại các sở, ngành, địa phương. Nhằm tạo sự thống nhất trong nhận thức và hành động, thực hiện chỉ đạo của Bộ Thông tin và Truyền thông, Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh Mai Sơn có ý kiến như sau: 1. Giám đốc các sở, thủ trưởng cơ quan, đơn vị thuộc UBND tỉnh; Chủ tịch UBND huyện, thành phố chỉ đạo, phổ biến, quán triệt tới toàn thể cán bộ, công chức, viên chức, người lao động thuộc quyền quản lý về sự khác nhau giữa công nghệ thông tin và chuyển đổi số (có 17 điểm khác nhau tại Phụ lục kèm theo). Báo cáo Chủ tịch UBND tỉnh (qua Sở Thông tin và Truyền thông) kết quả chỉ đạo, phổ biến, quán triệt trước ngày 25/3/2023. 2. Giao Sở Thông tin và Truyền thông xây dựng các sản phẩm, ấn phẩm để phổ biến, truyền thông trên các phương tiện truyền thông của địa phương như phát thanh, truyền hình, báo điện tử, mạng xã hội, tổ công nghệ số cộng đồng và tại các hội nghị, hội thảo liên quan; Báo cáo Bộ Thông tin và Truyền thông, Chủ tịch UBND tỉnh kết quả thực hiện các nội dung trên trước ngày 30/3/2023./. Nơi nhận: - Như trên; - TT Tỉnh uỷ; TT HĐND tỉnh (b/c); - CT, các PCT UBND tỉnh (b/c); - Các ban, cơ quan thuộc Tỉnh ủy; - UBMTTQ và các tổ chức chính trị-xã hội tỉnh; - Các huyện ủy, thành ủy; - UBND xã, phường, thị trấn; - VP UBND tỉnh: + LĐVP, các phòng, đơn vị; + Lưu: VT, KGVX.Cường. TL. CHỦ TỊCH KT. CHÁNH VĂN PHÒNG PHÓ CHÁNH VĂN PHÒNG Phạm Văn Đà
Phụ lục SỰ KHÁC NHAU GIỮA CÔNG NGHỆ THÔNG TIN VÀ CHUYỂN ĐỔI SỐ (Kèm theo Công văn số /UBND-KGVX ngày /3/2023 của Chủ tịch UBND tỉnh) 1. Chuyển trọng tâm từ chính quyền sang người dân, từ tổ chức sang nhân viên, từ doanh nghiệp sang khách hàng Công nghệ thông tin tập trung mang lại giá trị cho nhà quản lý nhiều hơn. Phục vụ nhà quản lý, làm dễ việc cho nhà quản lý. Chuyển đổi số tập trung mang lại giá trị cho người dùng, cho khách hàng, cho người dân. Lấy người dân làm trung tâm. Lấy người dùng, người sử dụng làm trung tâm. 2. Chuyển từ chi phí sang tạo ra lợi ích và giá trị Công nghệ thông tin nói đến chi phí là bao nhiêu, nói đến đầu tư là bao nhiêu. Nhiều dự án công nghệ thông tin hoành tráng ở chỗ chi nhiều tiền cho nhà cửa, máy móc, phần mềm. Chuyển đổi số nói đến mang lại giá trị gì, lợi ích gì. Chuyển đổi số chú trọng đánh giá hiệu quả, giá trị tạo ra trừ đi chi phí có dương không. Giống như một dự án đầu tư. 3. Chuyển từ phần mềm riêng lẻ sang nền tảng số dùng chung Công nghệ thông tin chỉ nói đến phần mềm. Phần mềm là viết cho một phòng ban, một tổ chức, một xã, một huyện, một tỉnh. Chuyển đổi số thì xuất hiện khái niệm nền tảng số. Nền tảng số là một phần cứng, một phần mềm nhiều người dùng chung trên phạm vi toàn tỉnh, toàn quốc, toàn cầu. Ngoài ra, nền tảng số không chỉ đơn thuần là phần mềm giải quyết một việc nào đó mà là một môi trường làm việc. 4. Chuyển từ ứng dụng công nghệ sang chuyển đổi cách làm việc Công nghệ thông tin thì nói đến ứng dụng công nghệ thông tin. Nó giống như một công cụ. Công nghệ thông tin cung cấp một công cụ để thực hiện tự động hóa một việc cũ, một cách làm cũ, một quy trình cũ. Chuyển đổi số thì chuyển đổi là danh từ, số là tính từ. Chuyển đổi cách làm là chính, là mục tiêu, công nghệ số chỉ là phương tiện thực hiện. 5. Chuyển từ cách làm từng phần sang làm toàn diện Công nghệ thông tin thì chỗ làm, chỗ không, cái làm cái không. Phòng kế toán có thể làm nhưng phòng tổ chức cán bộ thì chưa làm. Phòng kế toán làm nhưng mới làm phần kế toán chi phí mà chưa làm phần khai thuế. Như vậy là trong một tổ chức, tồn tại cái trên máy tính, cái trên giấy, cái trong đầu người. Không có cái nào phản ánh toàn diện, và cuối cùng bản giấy vẫn là quyết định, làm cho công nghệ thông tin trở thành một gánh nặng tăng thêm, vẫn máy tính và vẫn giấy.
2 Chuyển đổi số là toàn diện, mọi nơi, mọi chỗ, không còn cái gọi là nửa này nửa kia. Chỉ có một môi trường số. Mọi việc sẽ diễn ra trên môi trường số. Công việc của mỗi người mà rời máy tính ra là không làm việc được. Và chỉ khi này thì công nghệ số mới phát huy hiệu quả. 6. Chuyển trọng tâm từ giám đốc công nghệ thông tin sang người đứng đầu Công nghệ thông tin thì công nghệ là nhiều, là tự động hóa cái cũ, không phải thay đổi nhiều về cách làm, cách vận hành tổ chức, nên vai trò quyết định là giám đốc công nghệ thông tin. Chuyển đổi số thì chuyển đổi cách làm, thay đổi cách vận hành tổ chức là chính nên người đứng đầu đóng vai trò quyết định. Phá hủy cái cũ, đưa vào cách làm mới thì chỉ một người làm được, đó là người đứng đầu. Người đứng đầu mà không muốn thay đổi cách làm thì sẽ không có chuyển đổi số. Người đứng đầu muốn thay đổi cách làm mà ủy quyền cho cấp phó làm chuyển đổi số thì cũng không có chuyển đổi số. 7. Chuyển từ máy tính riêng lẻ sang điện toán đám mây Công nghệ thông tin là các hệ thống công nghệ thông tin dùng riêng, mỗi xã, mỗi huyện một cái. Đầu tư tốn kém, cần nhiều người vận hành khai thác. Chuyển đổi số là dùng chung trên đám mây, đầu tư một chỗ, vận hành khai thác một chỗ, dùng chung toàn tỉnh, toàn quốc. Chuyển đối số thì không còn nhìn thấy các hệ thống máy tính ở mỗi tổ chức. 8. Chuyển từ đầu tư sang thuê Công nghệ thông tin thì nhà nhà đầu tư, để dùng riêng. Cấp xã, cấp huyện đầu tư vì do ít tiền nên không đảm bảo một hệ thống đạt chuẩn, không có người chuyên môn vận hành nên nhiều sự cố, nhất là sự cố an toàn, an ninh mạng. Các hệ thống dùng riêng nên kết nối, chia sẻ dữ liệu luôn luôn là vấn đề. Các hệ thống là riêng biệt nên tổng đầu tư tăng tuyến tính theo số đầu mối. Đầu tư xong không có tiền vận hành khai thác nên hàng năm xuống cấp. Chuyển đổi số thì thuê. Thuê như chúng ta dùng dịch vụ điện thoại di động, một mạng di động thì đầu tư nhiều tỷ đô la, nhưng người dùng chỉ trả 60-70 ngàn mỗi tháng. Dùng bao nhiêu thì thuê bấy nhiêu, tăng giảm linh hoạt theo ngày được, còn đầu tư thì giảm không được, muốn tăng thì lại phải đầu tư mới mất hàng năm về thủ tục. 9. Chuyển từ sản phẩm sang dịch vụ Công nghệ thông tin là mua phần cứng, phần mềm về dùng, tức là mua sản phẩm. Một sản phẩm mua về có thể dùng không hết công suất, vì vậy lãng phí. Thống kê cho thấy, các máy tính mua về ít khi dùng hết 20% công suất. Mua sản phẩm về thì phải bỏ tiền, bỏ công ra để nuôi sống sản phẩm. Chuyển đổi số thì không mua sản phẩm mà là mua dịch vụ, trả tiền theo tháng, theo năm. Là chi phí thường xuyên. Dịch vụ thì dùng bao nhiêu trả bấy nhiêu. Không phải lo nghĩ về việc nuôi sống dịch vụ.